Theo Bộ luật Dân sự 2015, hợp đồng có hiệu lực từ thời điểm giao kết, trừ khi các bên thoả thuận khác hoặc một luật chuyên ngành quy định khác. Với hợp đồng bằng văn bản, thời điểm giao kết thường là lúc bên cuối cùng ký. Với hợp đồng bắt buộc công chứng, mốc là ngày văn bản được công chứng. Với một số giao dịch tài sản như đất đai, còn có thêm mốc đăng ký, nhưng mốc đó gắn với việc chuyển quyền chứ không phải với bản thân hợp đồng.
Câu hỏi "từ khi nào" quan trọng hơn người ta tưởng. Nó quyết định từ hôm nào bạn phải giao hàng, phải trả tiền, được đòi phạt, và nếu có tranh chấp thì quyền nghĩa vụ của hai bên bắt đầu ở đâu. Bài này đi qua nguyên tắc chung, các ngoại lệ hay gặp và một cách đọc hợp đồng theo từng bước để tự xác định ngày hiệu lực. Cách tính thời hạn thực hiện hay thời hiệu khởi kiện là chuyện khác, chỉ được nhắc khi cần.
Nguyên tắc chung: hiệu lực từ lúc giao kết
Bộ luật Dân sự 2015 đặt một quy tắc mặc định rất gọn: hợp đồng được giao kết hợp pháp có hiệu lực từ thời điểm giao kết. Từ lúc đó, các bên phải thực hiện quyền và nghĩa vụ đối với nhau theo cam kết, và hợp đồng chỉ bị sửa đổi hoặc chấm dứt theo thoả thuận hoặc theo quy định của pháp luật. Quy tắc này áp cho phần lớn giao dịch đời thường: mua một lô hàng, thuê thợ sửa nhà, vay tiền người quen, ký hợp đồng dịch vụ với một công ty.
Câu "trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc luật liên quan có quy định khác" là chỗ mở ra mọi ngoại lệ. Thoả thuận khác nghĩa là các bên tự ghi một ngày hiệu lực riêng, hoặc gắn hiệu lực vào một sự kiện như "khi bên mua thanh toán đợt một". Luật liên quan quy định khác nghĩa là một luật chuyên ngành, chẳng hạn luật về nhà ở, đất đai, công chứng, kinh doanh bảo hiểm, đặt ra mốc riêng mà các bên không tự gạt đi được.
Vì vậy khi ai đó hỏi "hợp đồng của mình có hiệu lực chưa", câu trả lời luôn phải đi qua ba lớp: hợp đồng giao kết lúc nào, các bên có thoả thuận ngày hiệu lực riêng không, và loại hợp đồng này có bị luật chuyên ngành buộc theo mốc khác không. Bỏ một lớp là dễ kết luận sai.
Thời điểm giao kết theo từng hình thức hợp đồng
Thời điểm giao kết phụ thuộc vào cách hai bên đi đến thống nhất. Bảng dưới gom các tình huống thường gặp theo quy định chung của Bộ luật Dân sự 2015; luật chuyên ngành có thể đặt mốc khác.
| Hình thức | Thời điểm giao kết thường được xác định | Điều cần giữ làm chứng cứ |
|---|---|---|
| Hợp đồng bằng lời nói | Lúc các bên đã thoả thuận xong nội dung chủ yếu | Người chứng kiến, tin nhắn xác nhận sau cuộc nói chuyện, chứng từ chuyển tiền |
| Hợp đồng bằng văn bản giấy | Lúc bên sau cùng ký vào văn bản, hoặc thể hiện chấp nhận bằng hình thức khác trên văn bản | Bản có đủ chữ ký các bên, ghi rõ ngày ký của từng bên nếu ký lệch ngày |
| Đề nghị và chấp nhận qua thư, tin nhắn | Lúc bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận trong thời hạn trả lời | Thư đề nghị, thư chấp nhận, thời điểm gửi và nhận |
| Chấp nhận bằng im lặng | Chỉ khi các bên đã thoả thuận hoặc đã có thói quen như vậy giữa hai bên | Bằng chứng về thoả thuận hoặc thói quen giao dịch trước đó |
| Hợp đồng phải công chứng, chứng thực | Theo luật chuyên ngành, thường là ngày văn bản được công chứng hoặc chứng thực | Bản công chứng, số công chứng, nơi lưu |
Điểm hay bị bỏ qua là chữ "bên sau cùng ký". Nếu bên A ký ngày 3, bên B ký ngày 10 thì hợp đồng giao kết ngày 10, dù trang đầu in sẵn ngày 3. Với hợp đồng ký qua phương tiện điện tử, nguyên lý của Luật Giao dịch điện tử 2023 về thời điểm gửi và nhận thông điệp dữ liệu được dùng để xác định mốc này.
Khi luật buộc mốc công chứng hoặc chứng thực
Một số hợp đồng chỉ có giá trị khi được công chứng hoặc chứng thực: điển hình là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, hợp đồng mua bán nhà ở giữa cá nhân với nhau, hợp đồng thế chấp nhà đất, một số hợp đồng tặng cho bất động sản. Với nhóm này, hai bên ký xong ở nhà chưa phải là xong. Hợp đồng chỉ có hiệu lực khi công chứng viên đã chứng nhận, tức là đã ký và văn bản được đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng. Bản chứng thực ở uỷ ban nhân dân cấp xã cũng theo logic tương tự, tính từ ngày chứng thực.
Hệ quả thực tế: nếu bạn đặt cọc, ký một "hợp đồng mua bán" viết tay ngày 1 rồi ngày 20 mới ra văn phòng công chứng, thì về nguyên tắc hợp đồng mua bán có hiệu lực từ ngày 20. Những gì xảy ra giữa hai mốc được điều chỉnh bởi giấy đặt cọc hoặc thoả thuận khác của hai bên, không phải bởi hợp đồng mua bán. Danh mục hợp đồng nào bắt buộc công chứng có thay đổi theo từng luật; trước khi ký nên hỏi văn phòng công chứng hoặc đối chiếu luật hiện hành của loại tài sản đó.
Hiệu lực hợp đồng khác với hiệu lực chuyển quyền
Hợp đồng có hiệu lực là các bên bị ràng buộc với nhau. Từ mốc này, bên bán phải làm thủ tục, bên mua phải trả tiền đúng cam kết. Nếu một bên bỏ ngang, bên kia có căn cứ yêu cầu thực hiện hoặc bồi thường.
Quyền sở hữu hay quyền sử dụng có thể chuyển ở một mốc khác. Với đất đai, Luật Đất đai 2024 vẫn giữ nguyên lý việc chuyển quyền phải đăng ký và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào sổ địa chính. Với nhà ở, quyền sở hữu thường chuyển khi bên mua đã thanh toán đủ và nhận bàn giao, trừ khi các bên thoả thuận khác. Hai mốc này có thể cách nhau nhiều tuần.
Hiệu lực đối kháng với người thứ ba lại là lớp thứ ba. Một hợp đồng thế chấp có thể đã ràng buộc hai bên nhưng chỉ "đứng vững" trước chủ nợ khác khi đã đăng ký biện pháp bảo đảm. Người cho vay hay quên lớp này.
Nhầm ba lớp là nguồn tranh chấp phổ biến. Người mua cầm hợp đồng công chứng nghĩ mình đã là chủ, trong khi sổ chưa sang tên; người bán thấy chưa sang tên lại nghĩ hợp đồng chưa ràng buộc mình. Cả hai đều hiểu sai một nửa.
Khi các bên tự chọn ngày hiệu lực
Pháp luật cho các bên tự do thoả thuận thời điểm hiệu lực, miễn là không trái luật chuyên ngành. Cách viết phổ biến là một điều khoản riêng: "Hợp đồng có hiệu lực kể từ ngày ký" hoặc "kể từ ngày…", hoặc gắn với sự kiện: "kể từ ngày bên B nhận được khoản tạm ứng", "kể từ ngày được cơ quan có thẩm quyền chấp thuận". Gắn hiệu lực với sự kiện chưa chắc xảy ra là tạo ra hợp đồng có điều kiện, có quy tắc riêng về việc điều kiện bị cản trở hay bị thúc đẩy.
Chọn một ngày hiệu lực sau ngày ký không có gì bất thường: ví dụ giả định, công ty ký hợp đồng thuê văn phòng tháng Năm nhưng ghi hiệu lực từ đầu tháng Bảy khi toà nhà bàn giao. Chọn một ngày hiệu lực trước ngày ký thì cần thận trọng hơn nhiều, vì nó chỉ ràng buộc giữa hai bên với nhau, không thay đổi được sự thật về thời điểm ký đối với cơ quan thuế, bảo hiểm, ngân hàng hay toà án.
Lỗi hay gặp nhất là hợp đồng có tới hai câu mâu thuẫn: trang đầu ghi "hôm nay, ngày…" và điều khoản cuối ghi "có hiệu lực từ ngày…" khác hẳn, hoặc phụ lục ghi một ngày thứ ba. Khi soạn, chỉ nên để một nơi quy định hiệu lực và dẫn chiếu về đó.
Có hiệu lực chưa chắc là hợp đồng hợp lệ
Hiệu lực là chuyện thời điểm, hợp lệ là chuyện điều kiện. Một hợp đồng đã đến ngày hiệu lực vẫn có thể bị toà tuyên vô hiệu nếu người ký không đủ năng lực hay thẩm quyền, nội dung trái điều cấm, hoặc thiếu hình thức bắt buộc. Khi bị tuyên vô hiệu, nó không làm phát sinh quyền nghĩa vụ kể từ lúc xác lập, nên câu "đã có hiệu lực" lúc đó không cứu được.
Hiệu lực cũng khác thời hạn thực hiện. Hợp đồng có thể có hiệu lực từ hôm nay nhưng nghĩa vụ giao hàng ba tháng nữa mới đến hạn. Cách đếm các hạn đó theo quy tắc tính thời hạn của Bộ luật Dân sự là một đề riêng.
Hiệu lực có điểm đầu thì cũng có điểm cuối. Hợp đồng chấm dứt khi hoàn thành, khi hết thời hạn, khi các bên thoả thuận, khi bị huỷ bỏ hoặc đơn phương chấm dứt đúng luật. Hợp đồng hết hạn mà hai bên vẫn làm tiếp là một tình huống cần phân tích riêng.
Đọc hợp đồng để xác định ngày hiệu lực
Khi cầm một hợp đồng cụ thể và cần biết nó ràng buộc mình từ ngày nào, có thể đi theo trình tự dưới đây. Mỗi bước loại bỏ một khả năng nhầm.
- Xác định loại hợp đồng: mua bán hàng hoá, dịch vụ, thuê, vay, chuyển nhượng nhà đất, bảo hiểm, lao động… Loại hợp đồng quyết định có luật chuyên ngành nào chen vào không.
- Tìm điều khoản hiệu lực, thường nằm ở cuối, tên là "Hiệu lực hợp đồng" hoặc "Điều khoản thi hành". Đọc cả phụ lục để chắc không có câu nào đè lên.
- Kiểm hình thức bắt buộc: loại hợp đồng này có buộc công chứng, chứng thực hay đăng ký không. Nếu có, mốc hiệu lực theo luật chuyên ngành, các bên không tự gạt đi được.
- Xem ngày ký của từng bên. Nếu ký lệch ngày, mốc giao kết là ngày bên sau cùng ký, trừ khi thoả thuận có hiệu lực theo một ngày khác.
- Xem có điều kiện treo không: "khi được phê duyệt", "khi nhận tạm ứng", "khi bên kia cung cấp bảo lãnh". Nếu có, hợp đồng chỉ phát sinh hiệu lực khi điều kiện xảy ra.
- Ghi ngày hiệu lực đã xác định vào sổ theo dõi hợp đồng, cùng với các mốc thực hiện và ngày hết hạn, để không bị nhầm khi có thay đổi nhân sự.
Nếu sau các bước trên vẫn còn hai cách hiểu, đó là dấu hiệu nên làm một văn bản xác nhận ngày hiệu lực có chữ ký hai bên, thay vì để đến lúc tranh chấp mới tranh luận.
Câu hỏi thường gặp
Hợp đồng không ghi ngày hiệu lực thì có hiệu lực từ khi nào?
Khi không có thoả thuận riêng và luật chuyên ngành không đặt mốc khác, hợp đồng có hiệu lực từ thời điểm giao kết. Với văn bản giấy, đó thường là lúc bên sau cùng ký. Vì vậy hợp đồng không ghi ngày hiệu lực vẫn ràng buộc, nhưng nên ghi ngày ký của từng bên để tránh tranh cãi.
Trang đầu ghi ngày khác với ngày thực tế ký thì tin ngày nào?
Ngày in ở trang đầu chỉ là một chứng cứ. Nếu chứng minh được ngày ký thực tế khác, mốc giao kết theo sự thật. Khi hai bên cố ý ghi ngày khác ngày ký, thoả thuận đó chỉ có tác dụng giữa hai bên và không dùng để đánh lừa người thứ ba hay cơ quan nhà nước.
Hợp đồng đã công chứng nhưng chưa sang tên sổ đỏ thì đã có hiệu lực chưa?
Hợp đồng chuyển nhượng đã công chứng thì đã ràng buộc hai bên. Việc chuyển quyền sử dụng đất thì theo nguyên lý của Luật Đất đai 2024 có hiệu lực khi đăng ký vào sổ địa chính. Hai mốc này khác nhau, nên người mua cần theo dõi thủ tục đăng ký tới cùng.
Có thể thoả thuận hợp đồng có hiệu lực sau ngày ký không?
Được, và đây là cách làm phổ biến khi hai bên ký sớm để chốt điều kiện nhưng muốn nghĩa vụ chỉ bắt đầu khi đủ chuẩn bị. Nên ghi rõ ngày cụ thể hoặc sự kiện cụ thể, và ghi các nghĩa vụ nào áp dụng ngay từ khi ký, ví dụ nghĩa vụ bảo mật.
Hợp đồng có hiệu lực rồi có rút lại được không?
Một bên không tự ý rút lại hợp đồng đã có hiệu lực. Muốn chấm dứt phải theo thoả thuận của hai bên, theo điều khoản đơn phương chấm dứt trong hợp đồng, hoặc theo các trường hợp luật cho phép. Tự ý dừng thường dẫn tới nghĩa vụ bồi thường hoặc chịu phạt vi phạm.
Hợp đồng lao động có hiệu lực từ khi nào?
Theo Bộ luật Lao động 2019, hợp đồng lao động có hiệu lực từ ngày hai bên giao kết, trừ khi có thoả thuận khác hoặc luật quy định khác. Thực tế hay ghi ngày bắt đầu làm việc riêng; nên đọc cả hai mốc và đối chiếu bản sửa đổi mới nhất của luật.