HieuLuc.comHiệu Lực
Giấy tờ nước ngoài dùng ở Việt Nam và ngược lại

Giấy tờ do nước ngoài cấp có giá trị ở Việt Nam không: năm câu hỏi để tự xác định

Giấy tờ nước ngoài được dùng ở Việt Nam khi qua đủ năm cửa: nguồn gốc, dấu xác nhận, bản dịch, còn hiệu lực ở nước cấp và đúng loại giấy nơi nhận cần.

A woman seen from behind at a ward service counter in Da Nang, sliding a folder of blank foreign papers across the desk, soft afternoon light, navy walls

Một tờ giấy do cơ quan nước ngoài cấp không tự động có giá trị ở Việt Nam, nhưng cũng không vô giá trị. Nó được cơ quan, toà án, công chứng viên ở Việt Nam chấp nhận khi trả lời được năm câu hỏi: giấy do ai cấp, đã được xác nhận con dấu chữ ký hay thuộc diện miễn, đã có bản dịch tiếng Việt đúng cách chưa, ở nước cấp nó còn hiệu lực không, và nơi nhận đang cần nó để làm gì.

Người cầm giấy kết hôn từ Hàn Quốc về, kỹ sư mang bằng thạc sĩ từ Úc, doanh nghiệp nhận giấy chứng nhận thành lập công ty mẹ ở Singapore đều gặp chung một chuỗi câu hỏi đó. Bài này đi qua từng câu, chỉ ra chỗ hay vấp, và tách bạch hai thứ hay bị lẫn: giấy tờ dùng để chứng minh một sự kiện, và giấy tờ cần được thi hành tại Việt Nam.

Câu hỏi thứ nhất: tờ giấy do ai cấp, ai xác nhận

Giấy của cơ quan nhà nước nước ngoài. Giấy khai sinh, giấy kết hôn, lý lịch tư pháp, giấy chứng nhận đăng ký công ty do cơ quan công quyền nước đó cấp. Đây là nhóm dễ xử lý nhất vì có con dấu, chữ ký chức danh để xác nhận theo chuỗi.

Giấy của tổ chức được nhà nước đó trao quyền. Bằng tốt nghiệp của trường đại học, văn bản của công chứng viên, giấy của bệnh viện. Ở nhiều nước, trước khi đưa sang bước lãnh sự, loại này phải qua một tầng xác nhận trong nước (ví dụ cơ quan quản lý giáo dục hoặc toà án địa phương xác nhận chữ ký công chứng viên).

Giấy do tư nhân tự lập. Hợp đồng giữa hai người, thư xác nhận của chủ cũ, giấy cam kết. Tự thân nó không có con dấu công quyền để hợp pháp hoá. Muốn đưa vào hồ sơ ở Việt Nam, thường phải chứng thực chữ ký người lập trước công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền ở nước đó, rồi mới tới bước lãnh sự.

Giấy do cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài cấp. Đại sứ quán, tổng lãnh sự quán Việt Nam cấp giấy khai sinh, trích lục hộ tịch cho công dân ở nước sở tại. Đây là giấy tờ Việt Nam, không phải giấy tờ nước ngoài, nên không đi đường hợp pháp hoá lãnh sự.

Câu hỏi thứ hai: đã được xác nhận hay thuộc diện miễn

Nguyên tắc chung của pháp luật Việt Nam là giấy tờ do cơ quan nước ngoài lập, cấp, xác nhận muốn được công nhận và sử dụng ở Việt Nam thì phải được hợp pháp hoá lãnh sự, trừ trường hợp được miễn. Hợp pháp hoá lãnh sự là việc cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam xác nhận con dấu, chữ ký, chức danh trên giấy tờ đó, thường sau khi nước cấp đã có một bước chứng nhận của họ.

Diện miễn thường gồm: giấy tờ được miễn theo điều ước quốc tế mà Việt Nam và nước kia cùng là thành viên (hiệp định tương trợ tư pháp, hiệp định lãnh sự song phương), giấy tờ được miễn theo nguyên tắc có đi có lại, giấy tờ chuyển giao trực tiếp hay qua đường ngoại giao giữa cơ quan hai nước, và giấy tờ mà luật Việt Nam không đòi hợp pháp hoá cho thủ tục cụ thể đó. Danh sách nước có hiệp định thay đổi theo thời gian, nên đừng dựa vào một danh sách chép lại trên mạng; kiểm tại cơ quan lãnh sự của Bộ Ngoại giao hoặc hỏi thẳng nơi tiếp nhận hồ sơ.

Điều cần nhớ: miễn hợp pháp hoá không có nghĩa là miễn mọi thứ. Giấy được miễn vẫn phải dịch, vẫn phải còn hiệu lực, và cơ quan nhận vẫn được quyền kiểm tra khi có nghi ngờ về tính xác thực.

Câu hỏi thứ ba: bản dịch tiếng Việt đã đúng cách chưa

Tiếng nói và chữ viết dùng trong thủ tục hành chính, tố tụng ở Việt Nam là tiếng Việt. Vì vậy gần như mọi giấy tờ nước ngoài nộp vào hồ sơ đều phải kèm bản dịch. Điểm hay bị bỏ qua là bản dịch phải dịch toàn bộ những gì có trên giấy, kể cả các dấu chứng nhận, dòng xác nhận lãnh sự và ghi chú bên lề, chứ không chỉ phần nội dung chính.

Bản dịch thường cần chứng thực chữ ký người dịch (tại cơ quan chứng thực hoặc tổ chức hành nghề công chứng), hoặc là bản dịch được công chứng theo quy định. Có nơi nhận chấp nhận bản dịch do cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài chứng nhận. Thứ tự đúng thường là: giấy gốc được xác nhận ở nước cấp, hợp pháp hoá lãnh sự, rồi mới dịch và chứng thực bản dịch ở Việt Nam, để bản dịch phản ánh cả dấu hợp pháp hoá. Làm ngược thứ tự là lỗi phổ biến khiến hồ sơ bị trả.

Bản dịch chỉ là phương tiện để người Việt đọc được bản gốc. Nó không thay bản gốc. Khi tên người, ngày tháng trên bản dịch lệch với bản gốc, cơ quan nhận sẽ căn cứ bản gốc và yêu cầu dịch lại.

Câu hỏi thứ tư: ở nước cấp, giấy đó còn hiệu lực không

Hợp pháp hoá xong không làm tờ giấy "sống" lâu hơn ở chính nước đã cấp nó. Bảng dưới gợi ý cách nghĩ theo từng nhóm.

Nhóm giấy tờHiệu lực gắn vớiChỗ cần tự kiểm
Giấy ghi nhận sự kiện (khai sinh, kết hôn, khai tử)Sự kiện đã xảy ra, thường không hết hạnSự kiện có bị thay đổi sau đó không (ly hôn, cải chính, huỷ việc kết hôn)
Giấy xác nhận tình trạng (độc thân, lý lịch tư pháp, cư trú)Tình trạng tại thời điểm cấpNơi nhận ở Việt Nam thường chỉ nhận giấy cấp trong một khoảng gần đây
Giấy phép, chứng chỉ có thời hạn (giấy phép lái xe, chứng chỉ hành nghề)Thời hạn ghi trên giấy và tình trạng ở nước cấpCó bị thu hồi, đình chỉ ở nước cấp không
Giấy chứng nhận doanh nghiệp, giấy tờ pháp nhânTình trạng pháp nhân tại thời điểm xác nhậnCông ty còn hoạt động, người đại diện còn đúng không
Bản án, quyết định của toà, trọng tàiHiệu lực theo pháp luật nước xét xửĐã có hiệu lực chung thẩm chưa, có bị kháng cáo, huỷ không

Cách tính "giấy cấp gần đây" là bao lâu và tính từ ngày nào là chuyện mốc thời gian, có bài riêng ở mảng thời hạn; ở đây chỉ cần nhớ: giấy xác nhận tình trạng phản ánh một thời điểm, càng cũ càng dễ bị từ chối.

Câu hỏi thứ năm: nơi nhận cần giấy để chứng minh hay để thi hành

Đây là câu hỏi quyết định đường đi. Phần lớn giấy tờ nước ngoài được dùng để chứng minh một sự kiện hay một tình trạng: chứng minh đã kết hôn để làm thủ tục nhà đất, chứng minh có bằng cấp để xin việc, chứng minh công ty mẹ tồn tại để đăng ký đầu tư. Với mục đích này, hợp pháp hoá (hoặc miễn) cộng bản dịch hợp lệ thường là đủ.

Nhóm thứ hai cần được thi hành ở Việt Nam: bản án nước ngoài buộc người ở Việt Nam trả tiền, phán quyết trọng tài nước ngoài, quyết định chia tài sản nằm ở Việt Nam. Với nhóm này, hợp pháp hoá không đủ. Bản án, phán quyết phải được toà án Việt Nam xem xét công nhận và cho thi hành; chỉ từ khi quyết định công nhận có hiệu lực, nó mới có sức bắt buộc như bản án của toà Việt Nam.

Nhóm thứ ba là các việc hộ tịch đã làm ở nước ngoài của công dân Việt Nam: khai sinh, kết hôn, ly hôn. Chúng đi đường "ghi vào sổ hộ tịch" (thường gọi là ghi chú) để hộ tịch Việt Nam phản ánh đúng tình trạng của người đó. Mỗi nhóm có bài riêng trong danh mục này.

Trình tự kiểm một tờ giấy trước khi nộp

Trước khi gửi giấy về nước hoặc mang đi nộp, đi lần lượt các bước sau để tránh phải làm lại từ đầu:

  1. Hỏi nơi nhận bằng văn bản hoặc đọc danh mục hồ sơ của thủ tục trên Cổng dịch vụ công: họ cần bản chính, bản sao chứng thực hay bản trích lục; có đòi hợp pháp hoá không; nhận bản dịch loại nào.
  2. Xác định nước cấp có thuộc diện miễn hợp pháp hoá với Việt Nam cho loại giấy này không, bằng thông tin hiện hành của cơ quan lãnh sự.
  3. Nếu phải hợp pháp hoá: làm bước chứng nhận ở nước cấp trước (cơ quan ngoại giao hoặc cơ quan được chỉ định của nước đó), rồi hợp pháp hoá tại cơ quan đại diện Việt Nam ở nước đó hoặc tại cơ quan lãnh sự ở Việt Nam.
  4. Kiểm lại thông tin cá nhân trên giấy gốc khớp hộ chiếu, căn cước: thứ tự họ tên, dấu, ngày sinh. Sai ở gốc thì sửa ở gốc, đừng để bản dịch "sửa giùm".
  5. Dịch toàn bộ giấy, kể cả các dấu xác nhận, và chứng thực bản dịch theo loại nơi nhận chấp nhận.
  6. Giữ bản chính để đối chiếu; nộp bản sao khi nơi nhận cho phép, vì giấy nước ngoài làm lại tốn thời gian hơn nhiều so với giấy trong nước.

Ví dụ giả định: anh Minh kết hôn ở Đức, mang bản sao giấy kết hôn đã dịch về nộp thủ tục sang tên đất ở Cần Thơ. Hồ sơ bị trả vì bản dịch làm trước khi hợp pháp hoá, nên không có phần dịch của dấu lãnh sự. Anh phải dịch lại toàn bộ — việc mà đúng thứ tự thì chỉ làm một lần.

Những hiểu lầm hay gặp

"Có dấu đại sứ quán là dùng được mọi nơi." Dấu hợp pháp hoá chỉ xác nhận con dấu và chữ ký. Nó không biến giấy thành hợp lệ cho mọi thủ tục, cũng không thay việc toà án công nhận một bản án.

"Giấy được miễn hợp pháp hoá thì không cần dịch." Miễn hợp pháp hoá và miễn dịch là hai chuyện khác nhau. Giấy tiếng nước ngoài vẫn cần bản dịch tiếng Việt khi nộp cho cơ quan Việt Nam.

"Giấy tiếng Anh thì cán bộ đọc được, không cần dịch." Cán bộ đọc được hay không không thay đổi yêu cầu hồ sơ. Thiếu bản dịch là thiếu thành phần hồ sơ.

"Đã nộp ở cơ quan này thì cơ quan khác phải nhận." Mỗi thủ tục có danh mục riêng. Một bộ giấy được nơi này nhận vẫn có thể bị nơi khác trả vì yêu cầu bản cấp gần đây hơn hoặc loại bản dịch khác.

"Giấy hết hạn ở nước ngoài vẫn dùng được ở Việt Nam vì Việt Nam không theo dõi." Dùng giấy biết là đã hết hiệu lực để làm thủ tục là khai không trung thực, có thể khiến kết quả bị huỷ và kéo theo trách nhiệm pháp lý.

Câu hỏi thường gặp

Giấy tờ nước ngoài chưa hợp pháp hoá lãnh sự có hoàn toàn vô giá trị ở Việt Nam không?

Không hẳn. Nó vẫn có thể là tài liệu tham khảo, hoặc được dùng khi thuộc diện miễn hợp pháp hoá. Nhưng với thủ tục mà luật đòi hợp pháp hoá, cơ quan Việt Nam sẽ không nhận nó làm giấy tờ hợp lệ trong hồ sơ.

Ai được hợp pháp hoá lãnh sự giấy tờ nước ngoài?

Ở nước ngoài là cơ quan đại diện ngoại giao, lãnh sự của Việt Nam tại nước cấp giấy. Ở trong nước là cơ quan lãnh sự của Bộ Ngoại giao và các cơ quan ngoại vụ địa phương được giao nhiệm vụ này. Nên kiểm nơi tiếp nhận cụ thể trên Cổng dịch vụ công trước khi đi.

Bản dịch giấy tờ nước ngoài có cần làm lại mỗi lần nộp không?

Không bắt buộc làm lại nếu bản dịch đã chứng thực vẫn khớp bản gốc và nơi nhận chấp nhận bản sao. Tuy nhiên nếu bản gốc được bổ sung dấu xác nhận mới, hoặc nơi nhận đòi bản chính bản dịch, bạn sẽ cần thêm bản.

Giấy tờ có hai thứ tiếng, trong đó có tiếng Việt, có cần dịch nữa không?

Nếu phần tiếng Việt do chính cơ quan cấp in trên giấy và đầy đủ như phần tiếng nước ngoài, nhiều nơi chấp nhận. Nhưng các dấu xác nhận đóng thêm bằng tiếng nước ngoài vẫn cần dịch. Hỏi nơi nhận cho chắc.

Giấy tờ nước ngoài bị nghi giả thì cơ quan Việt Nam xử lý thế nào?

Cơ quan nhận có thể tạm dừng giải quyết, đề nghị xác minh qua đường lãnh sự hoặc yêu cầu bạn bổ sung. Nếu xác định giấy giả, hồ sơ bị từ chối và người dùng giấy giả có thể bị xử lý theo pháp luật.

Giấy tờ của công ty nước ngoài nộp cho cơ quan đăng ký đầu tư cần lưu ý gì?

Thường phải là bản sao hợp lệ của giấy chứng nhận thành lập hoặc tài liệu tương đương, được hợp pháp hoá hoặc thuộc diện miễn, kèm bản dịch. Nhiều nơi nhận yêu cầu giấy xác nhận được cấp trong một khoảng gần đây để phản ánh tình trạng pháp nhân hiện tại.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.