HieuLuc.comHiệu Lực
Uỷ quyền, di chúc, cam kết: khi nào hết hiệu lực

Huỷ uỷ quyền có hiệu lực từ khi nào: báo người được uỷ quyền, báo bên thứ ba ra sao

Muốn thôi uỷ quyền, chỉ xé tờ giấy là chưa đủ. Huỷ có hiệu lực với ai, từ lúc nào, vì sao phải báo bằng văn bản cho bên thứ ba và cách làm với uỷ quyền đã công chứng.

Hands of a woman sealing a plain envelope at a post office counter in Hai Phong, a second envelope waiting beside her, blank papers, cool daylight, navy tones

Bên uỷ quyền có quyền đơn phương chấm dứt uỷ quyền bất cứ lúc nào; việc chấm dứt có hiệu lực với người được uỷ quyền khi họ nhận được thông báo (với uỷ quyền không thù lao phải báo trước một thời gian hợp lý), còn với người thứ ba thì chỉ khi người thứ ba được báo bằng văn bản hoặc đã biết, phải biết việc chấm dứt. Nếu không báo, giao dịch người được uỷ quyền đã ký với người thứ ba ngay tình vẫn có thể ràng buộc bạn.

Người ta thường muốn thôi uỷ quyền khi mất lòng tin, khi việc không còn cần, hoặc khi phát hiện người được uỷ quyền làm sai ý. Phản xạ đầu tiên là đòi lại tờ giấy, hoặc nhắn tin "từ nay không uỷ quyền nữa". Bài này giải thích vì sao như vậy thường chưa đủ, và trình tự nên làm để việc huỷ có hiệu lực thật với tất cả những người liên quan.

Ai được đơn phương chấm dứt uỷ quyền

Bộ luật Dân sự 2015 cho cả hai bên trong hợp đồng uỷ quyền quyền đơn phương chấm dứt, nhưng gắn với hệ quả khác nhau. Với bên uỷ quyền: nếu uỷ quyền có thù lao, bên uỷ quyền có quyền chấm dứt bất cứ lúc nào nhưng phải trả thù lao tương ứng với công việc người được uỷ quyền đã làm và bồi thường thiệt hại nếu có; nếu uỷ quyền không có thù lao, bên uỷ quyền cũng chấm dứt được bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước cho bên được uỷ quyền một thời gian hợp lý.

Với bên được uỷ quyền: nếu uỷ quyền không có thù lao, họ có quyền chấm dứt bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước cho bên uỷ quyền một thời gian hợp lý; nếu có thù lao, họ cũng có quyền chấm dứt nhưng phải bồi thường thiệt hại cho bên uỷ quyền nếu có. Nghĩa là không ai bị trói vĩnh viễn vào một quan hệ uỷ quyền, nhưng cách rút ra có giá của nó.

Luật không đòi hỏi bên chấm dứt phải nêu lý do chính đáng. Tuy nhiên, khi có tranh chấp về bồi thường, lý do và thời điểm chấm dứt sẽ được xem xét. Vì vậy trong thông báo nên ghi lý do một cách trung tính, ngắn gọn, và ghi rõ ngày chấm dứt có hiệu lực.

Báo cho người được uỷ quyền: thời điểm và cách báo

Với người được uỷ quyền, việc chấm dứt có hiệu lực khi họ nhận được thông báo, hoặc tại thời điểm ghi trong thông báo nếu thời điểm đó muộn hơn và hợp lý. Một tin nhắn qua mạng xã hội về nguyên tắc vẫn là một cách thông báo, nhưng khi tranh chấp, bạn phải chứng minh họ đã nhận và đọc. Cách chắc chắn hơn là văn bản gửi qua bưu điện có báo phát, giao tận tay có ký nhận, hoặc thư điện tử đến địa chỉ hai bên từng dùng trong công việc.

"Thời gian hợp lý" không có con số cố định. Nó phụ thuộc vào việc đang làm dở: nếu người được uỷ quyền đang ở giữa một thủ tục, cần thời gian để dừng lại, bàn giao hồ sơ, báo cho cơ quan đang giải quyết, thì thời gian hợp lý dài hơn so với một uỷ quyền nhận hộ giấy tờ chưa bắt đầu. Mục đích là không để bên kia rơi vào thế đã làm một nửa và chịu thiệt.

Kèm thông báo, nên yêu cầu người được uỷ quyền trả lại bản gốc giấy uỷ quyền, báo cáo những việc đã làm và bàn giao hồ sơ, tài sản đang giữ. Nếu có thù lao, nêu rõ cách quyết toán phần việc đã làm. Một thông báo đầy đủ các ý này giúp tránh việc người được uỷ quyền lấy lý do "chưa nhận đủ thù lao" để giữ giấy tờ.

Báo cho bên thứ ba: điểm quyết định hiệu lực

Đây là chỗ nhiều người bỏ qua. Bộ luật Dân sự 2015 yêu cầu bên uỷ quyền khi đơn phương chấm dứt phải báo bằng văn bản cho người thứ ba biết về việc chấm dứt; nếu không báo thì hợp đồng với người thứ ba vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp người thứ ba biết hoặc phải biết việc uỷ quyền đã bị chấm dứt. Nói cách khác, người thứ ba ngay tình được bảo vệ, còn rủi ro dồn về phía bạn.

Ví dụ giả định: chị M. ở Đắk Lắk uỷ quyền cho một người họ hàng giao dịch với đại lý thu mua cà phê, ký phiếu giao hàng và nhận tiền. Sau một lần cãi nhau, chị nhắn tin cho người họ hàng rằng thôi uỷ quyền. Tuần sau, người này vẫn đến đại lý ký nhận một khoản tiền. Vì chị M. chưa báo cho đại lý, đại lý đã trả tiền đúng cho người có giấy uỷ quyền, và chị khó đòi đại lý trả lại; chị chỉ có thể đòi người họ hàng.

"Người thứ ba" ở đây là những ai có thể nhận giấy uỷ quyền của bạn: ngân hàng, đối tác, người mua, cơ quan đang giải quyết hồ sơ. Với người chưa từng biết đến uỷ quyền, bạn không cần và cũng không thể báo hết; nhưng với những nơi người được uỷ quyền đã từng giao dịch hoặc rất có thể sẽ đến, phải báo.

Nơi cần báo theo loại việc đã uỷ quyền

Bảng dưới gợi ý nơi nên gửi thông báo chấm dứt uỷ quyền với những loại uỷ quyền hay gặp. Mỗi nơi có quy trình tiếp nhận riêng, nên hỏi trước họ cần mẫu hay giấy tờ kèm theo gì.

Loại uỷ quyềnNơi nên báoGiấy tờ thường kèm
Giao dịch tài khoản ngân hàngChi nhánh ngân hàng nơi mở tài khoảnGiấy tờ tuỳ thân, thường phải ra quầy hoặc dùng mẫu của ngân hàng
Mua bán, cho thuê nhà đấtTổ chức hành nghề công chứng đã chứng nhận, bên mua hoặc bên thuê đang đàm phán, nơi tiếp nhận hồ sơ đăng ký đất đai nếu hồ sơ đang nộpBản sao hợp đồng uỷ quyền, văn bản chấm dứt
Giao dịch chứng khoánCông ty chứng khoán nơi mở tài khoảnMẫu chấm dứt uỷ quyền của công ty
Làm thủ tục hành chínhCơ quan đang giải quyết hồ sơĐơn đề nghị dừng hoặc thay người liên hệ
Giao dịch với đối tác kinh doanhTừng đối tác người được uỷ quyền đã làm việcThư thông báo có chữ ký, gửi theo địa chỉ ghi trong hợp đồng
Nhận lương hưu, trợ cấp hộCơ quan, điểm chi trảGiấy tờ tuỳ thân, văn bản chấm dứt

Giữ bản sao mọi thông báo đã gửi và bằng chứng gửi. Nếu sau này có giao dịch bị tranh chấp, những bằng chứng này cho thấy người thứ ba đã biết hoặc phải biết uỷ quyền đã chấm dứt.

Chấm dứt hợp đồng uỷ quyền đã công chứng

Hợp đồng uỷ quyền đã công chứng, nhất là uỷ quyền liên quan đến nhà đất, cần thêm một lớp thủ tục vì nơi tiếp nhận sẽ tra cơ sở dữ liệu công chứng. Trình tự thường gặp như sau; cách làm cụ thể theo Luật Công chứng hiện hành và quy trình của từng tổ chức.

  1. Liên hệ chính tổ chức hành nghề công chứng đã chứng nhận hợp đồng uỷ quyền, hỏi họ đang chấp nhận hình thức chấm dứt nào.
  2. Nếu hai bên cùng đồng ý: cùng ký văn bản thoả thuận chấm dứt hợp đồng uỷ quyền tại tổ chức đó.
  3. Nếu chỉ bên uỷ quyền muốn chấm dứt: lập văn bản đơn phương chấm dứt; tổ chức hành nghề công chứng xem xét chứng nhận khi hợp đồng có điều khoản cho phép hoặc theo quy định của Bộ luật Dân sự về đơn phương chấm dứt.
  4. Đề nghị tổ chức hành nghề công chứng cập nhật thông tin chấm dứt vào hồ sơ lưu trữ và cơ sở dữ liệu mà họ sử dụng.
  5. Gửi văn bản chấm dứt đã công chứng cho người được uỷ quyền và các bên thứ ba liên quan.
  6. Nếu lo người được uỷ quyền đã hoặc sắp giao dịch tài sản, hỏi người làm nghề về việc đề nghị ngăn chặn giao dịch theo quy định hiện hành.

Điểm quan trọng: tổ chức hành nghề công chứng khác vẫn có thể chưa biết ngay việc chấm dứt. Báo trực tiếp cho những bên giao dịch tiềm năng vẫn là lớp bảo vệ không thể bỏ.

Những việc đã làm trước khi huỷ: không thể xoá ngược

Huỷ uỷ quyền chỉ có tác dụng cho tương lai. Những giao dịch người được uỷ quyền đã xác lập đúng phạm vi, trước thời điểm chấm dứt có hiệu lực, vẫn ràng buộc bạn như chính bạn đã ký. Nếu bạn huỷ vì không hài lòng với một hợp đồng họ vừa ký, việc huỷ không làm hợp đồng đó mất giá trị.

Muốn thoát khỏi một giao dịch đã ký, bạn phải đi theo con đường khác: chứng minh người được uỷ quyền đã vượt quá phạm vi uỷ quyền, chứng minh bên kia biết hoặc phải biết điều đó, hoặc thương lượng với bên kia để huỷ hợp đồng theo thoả thuận. Với giao dịch vượt phạm vi, phần vượt quá không ràng buộc bạn nếu bạn không công nhận; nhưng nếu bạn biết mà không phản đối trong một thời hạn hợp lý, có thể bị coi là đã chấp nhận.

Vì thế, khi phát hiện người được uỷ quyền làm sai ý, hai việc phải làm song song và nhanh: gửi thông báo chấm dứt để chặn các giao dịch mới, và gửi văn bản cho bên kia của giao dịch vừa ký, nêu rõ bạn không công nhận phần vượt phạm vi nếu có. Chậm trễ ở việc thứ hai có thể bị hiểu là ngầm chấp nhận.

Người được uỷ quyền muốn rút: làm sao cho êm

Không chỉ người uỷ quyền mới muốn chấm dứt. Người được uỷ quyền có thể bận, chuyển đi xa, hoặc thấy việc được giao có rủi ro. Họ có quyền rút, nhưng nên rút theo cách không để lại trách nhiệm. Gửi thông báo bằng văn bản cho người uỷ quyền, ghi rõ ngày dừng, liệt kê những việc đã làm và những việc đang dở, đề nghị thời điểm bàn giao hồ sơ, tiền, tài sản đang giữ.

Nếu việc đang dở có thể gây thiệt hại nếu bỏ ngang, ví dụ hồ sơ sắp đến hạn bổ sung, nên báo trước đủ để người uỷ quyền tìm người khác hoặc tự làm. Trường hợp có thù lao mà rút đột ngột gây thiệt hại, người được uỷ quyền có thể phải bồi thường. Sau khi rút, người được uỷ quyền nên trả lại bản gốc giấy uỷ quyền để không ai dùng nó nhân danh họ.

Câu hỏi thường gặp

Chỉ cần xé giấy uỷ quyền là coi như đã huỷ uỷ quyền phải không?

Không hẳn. Quan hệ uỷ quyền chấm dứt dựa trên ý chí được thông báo, không dựa trên việc tờ giấy còn hay mất. Bạn cần thông báo cho người được uỷ quyền, và báo bằng văn bản cho những người thứ ba có thể giao dịch với họ. Nếu là uỷ quyền đã công chứng thì nên làm thủ tục chấm dứt tại tổ chức đã chứng nhận.

Huỷ uỷ quyền có cần sự đồng ý của người được uỷ quyền không?

Không. Bên uỷ quyền có quyền đơn phương chấm dứt bất cứ lúc nào. Nếu uỷ quyền có thù lao, bạn phải trả thù lao tương ứng phần việc đã làm và bồi thường thiệt hại nếu có; nếu không thù lao, bạn phải báo trước một thời gian hợp lý.

Đã báo người được uỷ quyền nhưng chưa báo ngân hàng, họ vẫn rút được tiền thì sao?

Nếu ngân hàng chưa được báo và không biết việc chấm dứt, giao dịch giữa ngân hàng và người cầm giấy uỷ quyền có thể vẫn ràng buộc bạn. Khi đó bạn đòi lại tiền từ người đã rút. Vì vậy nên báo ngân hàng cùng lúc hoặc trước khi báo người được uỷ quyền.

Thời gian báo trước hợp lý là bao lâu?

Luật không ấn định con số. Thời gian hợp lý phụ thuộc vào việc đang làm dở và thời gian cần để bàn giao, dừng thủ tục. Uỷ quyền chưa bắt đầu thực hiện có thể chỉ cần vài ngày, còn uỷ quyền đang ở giữa một thủ tục phức tạp cần lâu hơn.

Hợp đồng uỷ quyền ghi không được đơn phương chấm dứt thì có huỷ được không?

Đây là điểm dễ tranh chấp. Bộ luật Dân sự trao quyền đơn phương chấm dứt cho các bên, nhưng các bên đã cam kết khác thì việc chấm dứt có thể kéo theo trách nhiệm bồi thường. Với hợp đồng có giá trị lớn, nên hỏi người làm nghề trước khi gửi thông báo.

Người được uỷ quyền không chịu trả lại bản gốc giấy uỷ quyền thì làm gì?

Việc chấm dứt vẫn có hiệu lực khi đã thông báo hợp lệ. Bạn nên báo bằng văn bản cho các bên thứ ba có thể nhận giấy đó, và với uỷ quyền đã công chứng thì cập nhật việc chấm dứt tại tổ chức đã chứng nhận để những người tra cứu biết.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.