Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế, tức là lúc người lập di chúc chết (hoặc ngày được xác định trong quyết định của toà nếu người đó bị tuyên bố là đã chết). Trước thời điểm đó, di chúc chỉ là ý định: người lập vẫn toàn quyền với tài sản của mình và có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ di chúc bất cứ lúc nào.
Câu hỏi này nghe có vẻ hiển nhiên nhưng lại là gốc của nhiều hiểu lầm trong gia đình: con được ghi tên trong di chúc tưởng đã có quyền với ngôi nhà, cha mẹ tưởng đã lập di chúc thì không được bán nhà nữa, anh chị em tranh cãi về một tờ di chúc trong khi người lập vẫn còn sống. Bài này chỉ bàn chuyện thời điểm hiệu lực và tác dụng của di chúc theo từng giai đoạn; điều kiện để một di chúc hợp pháp và cách chia di sản là những chủ đề riêng.
Vì sao di chúc chỉ có hiệu lực khi người lập mất
Di chúc là sự thể hiện ý chí của một người nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Bản chất này khác hẳn hợp đồng tặng cho: tặng cho có hiệu lực ngay khi các bên hoàn tất theo luật, người nhận có quyền với tài sản trong lúc người tặng còn sống. Còn di chúc chỉ nói về số phận tài sản vào cái ngày người lập không còn.
Vì vậy, Bộ luật Dân sự 2015 quy định di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế. Thời điểm này cũng là mốc để xác định di sản gồm những gì, ai là người thừa kế còn sống, phần nào của di chúc còn thực hiện được. Tài sản người lập đã bán từ trước, người được hưởng đã mất từ trước, đều được nhìn ở mốc này.
Một hệ quả ít người để ý: hai người lập di chúc cùng ngày, cùng nội dung nhưng mất ở hai thời điểm khác nhau thì di chúc của họ có hiệu lực ở hai thời điểm khác nhau, có thể áp những hoàn cảnh khác nhau về tài sản và người thừa kế. Di chúc không "đóng băng" tình trạng tài sản ở ngày lập.
Thời điểm mở thừa kế được xác định thế nào
Với trường hợp thông thường, thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết, được ghi nhận qua giấy báo tử của cơ sở y tế hoặc cơ quan có thẩm quyền và trích lục khai tử khi đăng ký hộ tịch. Ngày ghi trong trích lục khai tử là căn cứ thường được dùng khi làm thủ tục thừa kế.
Với người bị toà tuyên bố là đã chết, thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định trong quyết định của toà án. Ngày này có thể khác xa ngày người đó thực tế mất tích. Nếu sau đó người bị tuyên bố đã chết trở về, có quy định riêng về việc huỷ quyết định và xử lý tài sản đã chia, cần tra cứu kỹ khi gặp.
Trường hợp nhiều người có quyền thừa kế của nhau chết cùng thời điểm, hoặc không xác định được ai chết trước, như trong một tai nạn, luật coi họ chết cùng thời điểm và họ không được thừa kế di sản của nhau. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu lực của di chúc giữa những người đó và được phân tích kỹ ở bài về di chúc mất hiệu lực một phần.
Nơi mở thừa kế, tức là nơi cư trú cuối cùng của người để lại di sản, có ý nghĩa cho việc xác định nơi làm thủ tục và cơ quan giải quyết tranh chấp. Sau sắp xếp hành chính năm 2025, địa danh nơi cư trú cuối cùng có thể đã đổi tên; nơi giải quyết được xác định theo đơn vị hành chính hiện hành quản lý khu vực đó.
Từ lúc lập đến lúc mất: người lập vẫn có toàn quyền
Được bán, tặng, thế chấp tài sản ghi trong di chúc. Lập di chúc không làm hạn chế quyền định đoạt của chủ sở hữu. Cha mẹ đã ghi ngôi nhà cho con út vẫn có thể bán nhà khi cần tiền chữa bệnh; con út không có quyền ngăn cản dựa vào di chúc.
Được sửa đổi, bổ sung bất cứ lúc nào. Người lập có thể thêm người hưởng, đổi tỷ lệ, chỉ định thêm người quản lý di sản. Phần sửa đổi, bổ sung cũng phải là di chúc hợp pháp về hình thức và nội dung.
Được thay thế bằng di chúc mới hoặc huỷ bỏ di chúc. Khi thay thế bằng di chúc mới, di chúc trước bị huỷ bỏ. Người lập cũng có thể huỷ di chúc mà không lập bản mới; khi đó di sản sẽ chia theo pháp luật, trừ khi còn bản di chúc khác hợp pháp.
Không cần thông báo hay xin ý kiến ai. Người lập không có nghĩa vụ cho người được hưởng biết mình đã sửa, đổi hay huỷ di chúc. Đây là lý do tờ di chúc người con đang cầm có thể không còn là bản cuối cùng.
Không thể bị ép giữ nguyên. Mọi thoả thuận buộc người lập không được sửa di chúc, hay "cam kết không đổi di chúc", đi ngược bản chất tự do định đoạt của di chúc và khó được công nhận.
Hiệu lực theo từng hình thức di chúc
Mọi di chúc hợp pháp đều có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế. Tuy vậy, mỗi hình thức có điểm riêng ảnh hưởng đến việc di chúc còn tồn tại đến lúc đó hay không. Điều kiện hợp pháp chi tiết của từng hình thức cần đối chiếu Bộ luật Dân sự 2015.
| Hình thức | Điểm riêng về hiệu lực | Rủi ro thường gặp |
|---|---|---|
| Di chúc có công chứng hoặc chứng thực | Có hiệu lực khi người lập mất, nếu không bị thay thế, huỷ bỏ | Người lập đã lập bản sau ở nơi khác mà gia đình không biết |
| Di chúc bằng văn bản có người làm chứng | Như trên, cần đáp ứng điều kiện về người làm chứng | Người làm chứng không đủ điều kiện, dẫn đến tranh chấp tính hợp pháp |
| Di chúc tự viết tay, không người làm chứng | Có hiệu lực nếu người lập tự viết và ký toàn bộ | Thất lạc, bị tranh cãi chữ viết |
| Di chúc miệng | Chỉ lập được khi tính mạng bị đe doạ, phải đáp ứng điều kiện chặt về người làm chứng và thời hạn ghi chép | Nếu sau ba tháng kể từ khi lập mà người lập còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị huỷ bỏ |
Quy tắc ba tháng của di chúc miệng là trường hợp hiếm hoi một di chúc tự mất hiệu lực khi người lập vẫn còn sống. Nếu người lập hồi phục và vẫn muốn giữ ý định cũ, họ phải lập di chúc bằng văn bản.
Người có tên trong di chúc: trước và sau ngày mở thừa kế
Trong lúc người lập còn sống, người được ghi tên trong di chúc chưa có quyền gì đối với tài sản. Họ không thể đem di chúc đi thế chấp vay tiền, không thể bán trước phần sẽ được hưởng, không thể yêu cầu cơ quan đăng ký ghi nhận mình là chủ tương lai. Mọi thoả thuận mua bán "phần thừa kế sẽ được hưởng" khi người lập còn sống đều rất rủi ro cho người mua.
Từ thời điểm mở thừa kế, người thừa kế có quyền và nghĩa vụ tài sản do người chết để lại, trong phạm vi di sản. Tuy nhiên, có quyền không có nghĩa là đã đứng tên ngay. Với tài sản phải đăng ký như nhà đất, xe, cổ phần, người thừa kế phải làm thủ tục khai nhận hoặc thoả thuận phân chia di sản, rồi đăng ký biến động. Trong giai đoạn chuyển tiếp này, di sản do người quản lý di sản trông giữ.
Người thừa kế cũng có quyền từ chối nhận di sản, trừ trường hợp việc từ chối nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản của mình với người khác. Việc từ chối phải được lập thành văn bản và gửi đến những người liên quan trước thời điểm phân chia di sản.
Có hiệu lực và hợp pháp: hai câu hỏi khác nhau
Khi nói "di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế", luật ngầm định di chúc đó hợp pháp. Một di chúc không đáp ứng điều kiện về người lập, nội dung hoặc hình thức thì không có hiệu lực ngay cả khi người lập đã mất. Vì vậy, trước câu hỏi "từ khi nào" luôn có câu hỏi "có hợp pháp không", và hai câu này nên được tách bạch khi gia đình bàn với nhau.
Ở chiều ngược lại, một di chúc hoàn toàn hợp pháp vẫn có thể không có hiệu lực, hoặc chỉ có hiệu lực một phần, vì những sự kiện xảy ra giữa ngày lập và ngày mất: người được hưởng mất trước, tài sản đã bán, tổ chức được chỉ định đã giải thể. Đây là phần ít người để ý nhất, vì họ chỉ kiểm tờ di chúc mà không kiểm hoàn cảnh ở thời điểm mở thừa kế.
Cuối cùng, dù di chúc có hiệu lực, một số người vẫn được hưởng phần di sản nhất định không phụ thuộc vào nội dung di chúc, như con chưa thành niên, cha mẹ, vợ chồng của người lập trong những trường hợp luật định. Phần này làm thay đổi kết quả chia, nhưng không làm di chúc mất hiệu lực. Ba lớp câu hỏi trên nên đi theo đúng thứ tự: hợp pháp chưa, còn thực hiện được phần nào, rồi mới đến chia cho ai bao nhiêu.
Sau khi người lập mất: những việc với tờ di chúc
Khi người lập qua đời, di chúc bắt đầu có hiệu lực, nhưng để nó được thực hiện, gia đình thường đi qua các bước sau.
- Tìm tất cả các bản di chúc có thể có: trong giấy tờ cá nhân, ở người được nhờ giữ, ở tổ chức hành nghề công chứng nơi người mất từng làm việc.
- Nếu di chúc được gửi giữ ở tổ chức hành nghề công chứng hoặc ở một người, người giữ có trách nhiệm công bố di chúc theo quy định.
- Các thừa kế cùng đọc di chúc, đối chiếu ngày lập để xác định bản sau cùng, nếu có nhiều bản.
- Rà lại tình trạng tài sản ở thời điểm mở thừa kế: tài sản nào còn, tài sản nào đã bán, đã tặng.
- Xác định người hưởng nào còn sống ở thời điểm mở thừa kế và người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc, nếu có.
- Làm thủ tục khai nhận hoặc thoả thuận phân chia di sản tại tổ chức hành nghề công chứng, rồi đăng ký biến động tài sản.
Thời hạn yêu cầu chia di sản và các mốc thời gian liên quan là nội dung về thời hạn, nên tra riêng; điều cần nhớ là đừng để di chúc nằm im quá lâu sau khi người lập mất.
Câu hỏi thường gặp
Cha mẹ đã lập di chúc cho con, con có quyền ngăn cha mẹ bán nhà không?
Không. Di chúc chỉ có hiệu lực khi người lập mất. Trước đó cha mẹ vẫn là chủ sở hữu, có toàn quyền bán, tặng, thế chấp. Nếu ngôi nhà đã bán trước khi mất, phần di chúc liên quan đến ngôi nhà đó không còn thực hiện được.
Di chúc đã công chứng thì có hiệu lực ngay từ ngày công chứng không?
Không. Công chứng xác nhận di chúc được lập đúng hình thức và đúng ý chí người lập tại thời điểm ký. Di chúc vẫn chỉ có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế, và người lập vẫn có thể sửa, thay thế hoặc huỷ trước đó.
Di chúc miệng có hiệu lực trong bao lâu?
Di chúc miệng chỉ được lập khi tính mạng bị đe doạ và phải đáp ứng điều kiện về người làm chứng. Nếu sau ba tháng kể từ khi lập mà người lập còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị huỷ bỏ.
Người có tên trong di chúc có thể bán trước phần sẽ được hưởng không?
Trong lúc người lập còn sống, người có tên chưa có quyền gì với tài sản nên không thể bán phần đó. Mọi thoả thuận kiểu này rất rủi ro cho người mua, vì người lập có thể đổi di chúc hoặc bán tài sản bất cứ lúc nào.
Người bị tuyên bố đã chết thì di chúc có hiệu lực từ ngày nào?
Từ ngày được xác định trong quyết định tuyên bố đã chết của toà án. Nếu người đó trở về, có quy định riêng về việc huỷ quyết định và xử lý tài sản đã chia, nên hỏi người làm nghề khi gặp tình huống này.
Sau khi người lập mất, di chúc có tự được thực hiện không?
Không tự thực hiện. Gia đình cần tìm đủ các bản di chúc, công bố di chúc, xác định bản sau cùng và tình trạng tài sản, rồi làm thủ tục khai nhận hoặc phân chia di sản và đăng ký biến động với tài sản phải đăng ký.